Vật liệu

Các loại gang sắt

Gang sắt với graphit tấm (EN-GJL)

Trong gang sắt với graphit tấm (gang xám), một phẩn lớn của carbon là graphit dạng lá, mịn nằm xen lẫn trong cấu trúc (Hình 1}

Hình 1: cấu trúc của gang với than lá mỏng

bo1 bo2

Đặc tính. Loại than chì đen, mểm trong cấu trúc nền sáng của tinh thể ferit-peclit làm cho mặt gãy hiện ra màu xám. Loại này tác động cho tính trượt tốt, tính thích ứng gia công cất gọt và khả năng giảm chấn. Hàm lượng cao của c từ 2,6% đến 3,6% tạo ra tính dễ đúc của gang xám. Vì thế những chi tiết có hình dạng phức tạp cũng có thể đúc với gang xám (Hình 2).

bo3

Khi có tải trọng, những graphit tấm trong gang xám tác động như là những vết khía bên trong làm giảm độ bển kéo và độ giãn ở điểm gãy một cách cơ bản. Kích cỡ của graphit tấm tùy thuộc vào tốc độ làm nguội. Graphit thô làm giảm độ bển kéo nhiểu hơn graphit mịn.

bo4

Độ bền kéo cũng tùy thuộc vào cấu trúc kim loại, cấu trúc ferit có độ bền kéo tương đối thấp, tăng lên theo thành phẩn peclit (Hình 3).Trái lại độ bền nén của gang đúc với graphit tấm có mức độ cao hơn 4 lẩn so với độ bển kéo.

Gang với graphit tấm là loại gang thông dụng nhất vì đặc tính của nó và giá thành thấp. Bởi hình dáng tấm của than nên độ bền kéo bị giới hạn và độ dai rất thấp.

Phân loại: Gang sắt với tấm than chì mỏng được xếp loại hoặc với độ bển kéo hay độ cứng Brinell chia thành 6 loại:

EN-GJL-100…EN-GJL-350 hoặc EN-GJL-HB 155…EN-GJL-HB 255

Ký hiệu với độ cứng Brinell sẽ được chọn khi độ cứng có tính quyết định, thí dụ như cho chi tiết mài mòn hoặc phương pháp gia công.

Ứng dụng. Thí dụ giàn máy và bàn trượt của máy công cụ cũng như vỏ hộp số hay vỏ động cơ của máy nổ được làm bằng gang xám.

Gang với graphit dạng giun có graphit tách rời với dạng giun. Độ bển kéo do đó cao hơn gang với graphit tấm ở cùng khả năng dẫn nhiệt. Loại gang này thích hợp cho cơ phận chịu tác động nhiệt như thân máy nổ, nắp quy lát và cơ phận của giàn thắng xe hơi.

Post Comment