Gia công

Doa

Doa là khoan lỗ lớn ra với bể dày cắt ít để gia công các lỗ ghép chính xác đến IT5 với độ bóng bề mặt cao. Người ta phân biệt doa tròn và doa định hình (Hình 1, trang 122).

Quá trình cắt

Việc gia công chủ yếu được thực hiện bởi phẩn cạnh vát của lưỡi doa, trong khi lưỡi cắt ở chu vi tạo ra độ đúng kích thước, độ chính xác hình dạng và độ bóng bể mặt (Hình 1). Lượng dư để gia công của lưỡi doa tùy thuộc vào đường kính lỗ khoan: từ0,2 mm đến 0,6 mm cho lưỡi doa rãnh thẳng và rãnh xoắn, đến 0,8 mm ở lưỡi doa gọt cắt với vật liệu sinh phoi dài (Hình 2). Tốc độ cắt vào khoảng phân nửa như ở khoan. Bước dẫn tiến mỗi vòng quay từ 0,05 đến 1,00 mm nhẩm theo vật liệu của chi tiết và của dụng cụ, đường kính lỗ khoan và độ bóng bể mặt yêu cầu.
cd1 cd2

Lượng dư để doa phải được chọn sao cho ít nhất phải đạt mức tối thiểu nhưng tránh xảy ra tình trạng quá tải vì cắt phoi quá nhiều.

Dụng cụ doa

Lưỡi doa gổm phẩn vạt, phẩn dẫn hướng, cổ và chuôi (Hình 3).

Dụng cụ doa được chế tạo bằng thép gió, hợp kim cứng toàn bộ, nhưng cũng có lưỡi cắt được trang bị với hợp kim cứng hay kim cương đa tinh thể. Một vài loại dụng cụ có dạng kết cấu với đường dẫn làm nguội bôi trơn ở trong. Lưỡi doa được thực hiện thông thường là số răng thẳng nhằm để có thể đo đường kính dễ dàng. Bước chia răng không đồng đều được lặp lại sau một nửa chu vi, có thể tránh được việc tạo ra độ rung, dấu dợn sóng và độ lệch đổng tâm (Hình 4). Đường biên dẫn của lưỡi cắt phụ thường được thực hiện là đường biên mài tròn. Đường biên càng rộng thì có dạng hình học tốt hơn nhưng độ bóng bể mặt xấu hơn.

cd3

Cạnh cắt của lưỡi doa hoặc là rãnh thẳng hoặc có rãnh xoắn trái từ 7° hay 15°, ở lưỡi doa gọt là 45° (Bảng 1).

cd4

Người ta phân biệt dụng cụ doa:

Lưỡi doa nhiều lưỡi cắt nguyên khối (không điều chỉnh được)

Lưỡi doa nhiều lưỡi cắt, điều chỉnh được

Lưỡi doa một lưỡi cắt với thanh trượt hướng _dẫn, điều chỉnh được.Mũi doa nhiều lưỡi cắt nguyên khối (không điểu chỉnh được) được sử dụng cho doa tay hoặc doa máy. Mũi doa tay có phẩn vát khoảng V4 thân lưỡi doa và một phần dẫn hướng dài hơn để dẫn hướng tốt hơn (Hình 3, Trang 132).

 

Mũi doa máy có cạnh vát và phẩn dẫn hướng ngắn hơn lưỡi doa tay vì sự dẫn hướng được điểu khiển qua trục máy (Hình 1). Với lưỡi doa máy người ta có thể doa lỗ cụt (lỗ có đáy). Để doa lỗ có đường kính lớn hơn, lưỡi doa máy được sản xuất dưới dạng mũi doa cán lắp (lưỡi doa ống) (Hình 2).

cd5

Trong sản xuất hàng loạt người ta sử dụng đầu doa mô đun dùng một lẩn, một phần trong số đó có đường dẫn dung dịch cắt ở trong. Khi mòn chỉ thay đẩu doa thôi.

ở doa lỗ dài hay doa lỗ khoan nằm cách quãng, thí dụ chi tiết dạng chạc gồm hai nhánh với 2 lỗ khoan như trong hình 3, một giải pháp đã được chứng minh và sử dụng trong sản xuất gọi là lưỡi doa máy gồm nhiều phần ghép lại với sai biệt cực lớn về những đường kính của lưỡi cắt thô và lưỡi cắt chính. Đoạn cắt thô phẩn lớn bằng hợp kim cứng (Hình 3) đảm nhiệm phẩn gia công chính với đường kính nhỏ hơn một chút so với phẩn doa tinh. Công đoạn doa tinh sẽ do lưỡi cắt chính thực hiện phẩn lượng dư quy định còn lại, đảm bảo các lỗ khoan nằm cùng trên một trục được thẳng hàng.

cd6

Lưỡi doa nhiều cạnh cắt điểu chỉnh được là những lưỡi doa xẻ rãnh, điều chỉnh được hay lưỡi doa mở rộng (Hình 4). Lưỡi doa xẻ rãnh điều chinh được trong phạm vi đàn hồi để cân bằng sự mài mòn qua một chuôi côn, khâu côn hay một vít còn. Lưỡi doa với vòng cắt có thể điều chỉnh mài lại đến 5% trong phạm vi đàn hổi.

cd7

Lưỡi doa một hay hai cạnh cắt với mảnh cắt trở mặt có một hay hai lưỡi cắt và thanh dẫn ở vòng ngoài (chu vi) (Hình 5). Thanh dẫn hướng có chức năng là hướng dụng cụ (lưỡi doa) đi vào lỗ khoan. Mảnh cắt trở mặt và thanh hướng dẫn đều bằng hợp kim cứng.

Lưởi doa côn tạo phoi trên toàn bộ chiều dài cất được sử dụng doa các lỗ có dạng hình côn, thí dụ như doa lỗ chốt côn.

cd8

Post Comment