Tùy theo vật liệu làm chất điện môi, người ta chia tụ điện thành các loại sau: tụ mica, tụ sứ, tụ giây, tụ điện phân v.v…

Tụ mica: gồm có những lá kim loại 1 làm bản cực (hìnhl0.3a) và các lớp mica 2 làm chất điện môi. Tụ mica có điện dung ổn định cao và tổn hao rất ít. Loại tụ điện mica ký hiệu KCO có điện dung từ 470 4- 50000 pF, điện áp làm việc từ 250V-Ỉ-7KV.

10.3

 

Hình 10.3. Tụ điện

a)  Cấu tạo tụ mica; b) cấu tạo tụ sứ; c) cấu tạo tụ giấy; d) Ký hiệu tụ có điện dung không đổi

   lenh-phac-thao-solidworks    Vẽ mẫu điêu khắc 3D  
Tài liệu học vận hành máy CNC Đào tạo thiết kế cơ khí 3D Dạy lập trình gia công Mastercam Đào tạo thiết kế vẽ mẫu điêu khắc Bộ 4 DVD eEbook ngành xây dựng

Tụ sứ: gồm có ống sứ 1 (hoặc đĩa sứ) đóng vai trò chất điện môi. Ở mặt ngoài và trong ông sứ có quét lớp bạc mỏng 2 là các bản cực của tụ. Bên ngoài tụ có phủ lớp bảo vệ (h.l0.3b). Các loại tụ sứ có ký hiệu KTK (ống) và KIIK (đĩa) với điện dung định mức từ 1 -ỉ- 750 pF và điện áp làm việc 750V.

Tụ giấy: gồm những lá nhôm rất mỏng 1 và giấy tụ tẩm dầu

2   xếp xen kẽ nhau, quấn lại thành hình trụ (hình 10.3c). Bản cực là những lá nhôm, còn điện môi là giấy tẩm dầu. vỏ tụ giấy có thể làm bằng kim loại hoặc bằng sứ. Tụ vỏ kim loại sản xuất ở Nga có ký hiệu KôrM với điện dung từ 0,01 ¸ 10mFvà điện áp làm việc từ 200V  ¸ 30KV. Còn tụ vỏ sứ ký hiệu KrM có điện dung từ 470pF ¸0,1 mF, và điện áp làm việc từ 200 đến 600V. Ngoài ra người ta còn còn chế tạo loại giấy kích thước nhố, trên giấy tụ loại này có quét lớp kim loại mỏng làm bản cực, tụ có điện dung trong giới hạn 0,05 + 25 mF điện áp làm việc

3   ¸160V.

 

10.4

Tụ điện phân: gồm có hai bản nhôm mỏng 1 và 2, giữa chúng là những lớp giấy 3 có tẩm chất điện phân. Khi cuộn tròn lại bản nhôm 1 sẽ ngập trong chất điện phân (hình 10.4a). Nếu cho dòng điện chạy từ bản nhôm 1, qua chất điện phân, thì trên mặt bản nhôm 1 sẽ giải phóng oxy; và oxy lại oxy hóa bề mặt bản nhôm 1. Lớp oxit nhôm này là chất điện môi tốt. Trong tụ điện phân, bản nhôm 1 là bản cực thứ nhất, và đóng vai trò anốt của tụ, dung dịch điện phân là bản cực thứ hai: còn bản nhôm 2 tiếp xúc với chất điện phân làm nhiệm vụ katết của tụ. Nhờ lớp oxit nhôm rất mỏng, nên tụ điện phân có điện dung lớn mà kích thước lại nhỏ. Nhưng phải chú ý rằng, tụ điện phân chỉ làm việc ở điện áp một chiều với cực dương – âm như quy định. Nếu điện áp một chiều còn có thành phần xoay chiều, thì thành phần xoay chiều không được vượt quá 5 4- 20% thành phần một chiều. Đặt điện áp ngược lại, lớp oxit nhôm sẽ hòa tan vào chất điện phân, dòng điện chạy qua tụ tăng lên, đốt nóng tụ.

 

 

Ngoài các loại tụ đã mô tả ở trên, trong sơ đồ điện tử còn dùng loại tụ có điện dung biến thiên. Tụ gồm có bản cực cố định là những lá nhôm mỏng ghép lại, và bản cực di động cũng cấu tạo từ những lá nhôm mỏng gắn trên cùng một trục. Các lá nhôm của bản cực cô” định và di động xen kẽ với nhau, lớp điện môi giữa chúng thường là không khí (hoặc mica).

Ký hiệu tụ điện trên sơ đồ điện tử như ở hình 10.3d là tụ có điện dung không đổi, còn như ở hình 10.4b là tụ có điện dung biến thiên.

       

Còn nhiều bài nữa!

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

*
*
Website