Điện-Điện Tử

Sơ đồ điều khiển động cơ dây quấn quay hai chiều có thêm điện trở mở máy vào mạch rôto

Hình 6.10. Sơ đồ điều khiển động cơ dây quấn quay hai chiều có thêm điện trở mở mảy vào mạch rô to

mach roto

 

Trong sơ đồ người ta sử dụng bộ khống chế để điều khiển động cơ. Trong quá trình mở máy nhờ rơle thời gian phối hợp với sự thay đổi tay quay bộ khống chế, các phần tử điện trở lần lượt tự động tách khỏi mạch rôto sau một thời gian nhất định. Còn khi đổi từ chiều quay này sang chiều quay khác, động cơ sẽ được hãm ngược.

Tùy theo sự di chuyển tay quay bộ khống chế về phía phải P hoặc trái T, mà các cuộn dây khởi động từ K1 hoặc K2 có điện, động cơ sẽ mở máy và quay về hướng này hoặc hướng khác. Khi tay quay bộ khống chế ở vị trí 0, cuộn dây rơle điện áp RU có điện, tiếp điểm RU đóng lại giữ cho cuộri RU luôn luôn có điện. Nếu tay quay bộ không chế chuyển sang phía phải P lần lượt qua các vị trí 1, 2, 3, thì các tiếp điểm của bộ khống chế ở các mạch cuộn dây K1, RG1, Rt1 rồi đến Rt2 và C cũng lần lượt được đóng lại. Cuộn K1 có điện, các tiếp điểm chính của nó đóng lại, nối dây quấn stato động cơ vào mạch điện. Còn tiếp điểm phụ K1 đóng mạch cuộn dây rơle trung gian RG1, rơle RG1 tác động đóng tiếp điểm thường mở của nó, nhưng tiếp điểm RG2 vẫn đóng vì dòng điện rôto chạy qua cuộn dây rơle trung gian RG2 chưa đạt được mức tác động. Do đó cuộn dây rơle thời gian Rt1 có điện, các tiếp điểm thường mở của nó ở mạch điện rô to đóng ngay lại, phần điện trở hãm Rh tức khắc loại ra khỏi mạch rôto (điện trở này chỉ có tác dụng lúc hãm ngược động cơ). Tiếp điểm Rt1 ở mạch cuộn dây rơle thời gian Rt2 đóng có thời gian, nên sau khoảng thời gian nhất định cuộn đây Rt2 cũng có điện và đóng ngay các tiếp điểm Rt2 ở mạch điện rôto lại, phần điện trở mở máy Rmm1 bị ngắn mạch. Tương tự trên, cuộn dây công tắc tơ C sẽ có điện sau khoảng thời gian nhất định khi tiếp điểm đóng có thời gian Rt2 đã đóng. Các tiếp điểm công tắc tơ c lúc đó đóng lại, ngắn mạch đoạn điện trở Rmm2, toàn bộ điện trở mở máy được tách khỏi mạch điện rôto. Quá trình mở máy kết thúc.

Muốn đổi chiều quay động cơ ta di chuyển tay quay theo hướng ngược lại (từ P sang T). Khi tay quay về vị trí 0, các cuộn dây thiết bị điều khiển đều bị cắt điện (trừ mạch cuộn dây rơle điện áp RU), và các phần tử điện trở mở máy lại đấu vào mạch rô to động cơ.

Khi quay tay quay bộ khống chế sang phía trái T lần lượt qua các vị trí 1, 2, 3. Cuộn K2 có điện, động cơ lại được đóng vào lưới, nhưng bây giờ thứ tự các pha vào động cơ thay đổi, nên từ trường quay của động cơ đổi hướng, động cơ ở chế độ hãm ngược. Lúc này dòng điện rôto lớn hơn dòng điện mở máy. Rơle trung gian RG2 tác động, nó mở tiếp điểm thường đóng RG2, ngăn không cho dòng điện qua các cuộn dây Rt1, Rt2 và C. Tiếp điểm RG1 nối tiếp với RG2 mục đích ngăn ngừa trường hợp do quán tính RG2 chưa mở kịp, và lúc đó RGi cũng chưa đóng kịp (các loại rơle điện từ khi đóng mở đều có quán tính), đảm bảo mạch điện qua cuộn Rt1 vẫn bị cắt. Khi chuyển đổi vị trí tay quay bộ không chế từ số 3 bên P sang số 3 bên T, nếu dòng điện rôto chưa giảm đến trị số cho phép lúc mở máy thì tuyệt đốỉ không được tách điện trở máy và hãm ra khỏi dây quấn rôto. Chỉ sau khi dòng điện rôto giảm xuông đến trị số cho phép lúc mở máy, RG2 thôi tác động, tiếp điểm thường đóng của 110 đóng lại, dòng điện lần lượt qua các cuộn Rt1, Rt2 và C như đã trình bày ở trên, điện trở mở máy tách ra khỏi mạch rôto.

Trong sơ đồ này, rơle điện ấp RU đảm bảo cắt động cơ khi điện áp của lưới giảm xuống dưới mức qui định, đồng thời rơle này chỉ cho phép mở máy động cơ khi tay quay bộ khống chế đã đưa về vị trí không, nghĩa là toàn bộ điện trở mở máy được mắc vào mạch rôto. Rơle nhiệt RT1, RT2 bảo vệ động cơ quá tải, còn rơle dòng điện RI1, RI2 bảo vệ động cơ khi bị ngắn mạch.

Sơ đồ điều khiển động cơ dây quấn nhờ rơle dòng điện
Sơ đồ điều khiển động cơ dây quấn nhờ rơle dòng điện trình bày trên hình 6.11. Còn rơle dòng điện RI3, RI4, RI5 dùng để khống chế quá trình cắt dần các phần điện trở mở máy ra khỏi mạch rôto.

mach roto1

Dòng điện tác động của các rơle này chỉnh định, theo bất đẳng thức sau:

mach roto2

Để mở máy động cơ ta ấn vào nút Nđ, cuộn dây công tắc tơ c có điện, các tiếp điểm của nó sẽ nối dây quấn stato vào lưới. Tiếp điểm phụ của c đóng mạch rơle trung gian RG. Tiếp điểm RG đóng lại, phần dưới của mạch điều khiển sẽ có điện. Nhưng lúc bây giờ cuộn C1 chưa có điện, vì dòng điện rôto lớn, RI3 tác động tiếp điểm thường đóng RI3 mở ra, đến khi nào dòng điện rôto giảm xuống dưới trị số RI3 nó thôi tác động. Tiếp điểm thường đóng IR3 đóng lại, cuộn C1 có điện và các tiếp điểm của nó ngắn mạch đoạn điện trở Ri. Dòng điện rô to giảm dần, lần lượt RI4 rồi RI5 thôi tác động. Các cuộn dây C2, C3 có điện và tách các đoạn điện trở R2 rồi R3 ra khỏi mạch rôto.

Rơle trung gian RG dùng để ngăn ngừa trường hợp vì quán tính các tiếp điểm RI3, RI4, RI5 chưa mỏ kịp, các cuộn dây C1, C2, C3 liền mạch sẽ tách điện trở mở máy ra khỏi mạch rôto (tác dụng RG cũng tương tự tác dụng RG1 ở hình 6.10).

Trong sơ đồ này RI1, RI2 dùng để bảo vệ động cơ quá tải và ngắn mạch.

Post Comment